Saturday, January 26, 2013


Quan hệ Trung Việt trước trận Hoàng Sa

Cập nhật: 16:50 GMT - thứ tư, 23 tháng 1, 2013
Từ 1968, Mao Trạch Đông và Lâm Bưu nói đến 'mối đe dọa' từ Liên Xô
Tiếp tục loạt chuyên đề về Hoà đàm Paris 1973, BBC xin giới thiệu bài của Giáo sư Lý Hiểu Binh từ Đại học Central Oklahoma trả lời câu hỏi của BBC Tiếng Việt và Tiếng Trung từ London về bối cảnh quan hệ Bắc Kinh với Moscow và Hà Nội từ 1968.
Giáo sư Lý Hiểu Binh, tác giả các cuốn sách và bài viết về quân đội Trung Quốc, cũng trình bày lại cách nhìn từ Bắc Kinh về trận hải chiến Hoàng Sa 1974.

Quan hệ Trung Xô đổi hướng

Vào ngày 31/3/1968, Tổng thống Lyndon Johnson tuyên bố tạm ngưng ném bom miền Bắc Việt Nam để bày tỏ một thiện chí hòa bình, và đã nhận được phản hồi tích cực từ Hà Nội qua tuyên bố ngày 4 tháng 4 rằng họ sẵn sàng thảo luận với người Mỹ.
Trung Quốc chỉ biết về chuyện Hoa Kỳ và Bắc Việt Nam (DRV) đàm phán với nhau mãi về sau này. Vào khoảng tháng 4 và 5, Bắc Kinh bắt đầu phê phán Hà Nội đi theo Moscow. Sau khi đàm phán tại Paris bắt đầu ngày 13/5/1968, Trung Quốc vẫn tiếp tục chỉ trích Bắc Việt nói chuyện với Hoa Kỳ. Ngày 31/10, Tổng thống Johnson ngưng oach tạc Bắc Việt cả trên đất liền và vùng ven biển. Trong lúc Bắc Kinh kiềm chế không tham gia hội đàm Paris thì Moscow, trái lại, luôn hào hứng ủng hộ đàm phán. Bắc Việt Nam bắt đầu dịch chuyển lại gần Liên Xô.
Cùng thời gian ban lãnh đạo Trung Quốc bắt đầu cảm thấy có bằng chứng rằng Hoa Kỳ đã là cường quốc mất dần ảnh hưởng vì thất bại của họ tại Việt Nam, trong khi Liên Xô lại chiếm ngay ‘khoảng trống quyền lực’ đó và bắt đầu thay chân Mỹ để thành ‘đế quốc xâm lăng’. Trung Quốc và các nước châu Á khác dễ trở thành mục tiêu của ‘chủ nghĩa đế quốc Xô Viết’. Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Nguyên soái Lâm Bưu và cộng sự coi Liên Xô là mối đe dọa trực tiếp hơn Hoa Kỳ.
Quan niệm của Lâm Bưu được các cấp chỉ huy và binh sỹ Quân Giải phóng tán đồng vì họ trực tiếp chứng kiến sự thù địch gia tăng của Liên Xô với Trung Quốc. Trong cuộc xâm lăng Tiệp Khắc năm 1968, quân Liên Xô đã tràn vào Đại sứ quán Trung Quốc ở Praha, tập phá và đánh tàn bạo các nhà ngoại giao Trung Quốc. Khi căng thẳng hai bên lên cao, Liên Xô triển khai một số lượng lớn quân đội dọc biên giới Trung – Xô, từ 17 tăng lên tới 27 sư đoàn vào cuối 1968.
Chu Ân Lai cũng từng nói thẳng với Phạm Văn Đồng vào ngày 29/4 rằng: “Nay Liên Xô đang bao vây Trung Quốc và vòng vây đó đã gần trọn, chỉ còn phía Việt Nam là chưa.” Lâm Bưu ra lệnh cho Quân Giải phóng sẵn sàng chiến đấu chống trả Liên Xô một khi có xâm nhập.
"Hai ông Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai ở Hà Nội năm 1960. Ông Hồ đã mời Trung Quốc cử quân đội sang Bắc Việt Nam hỗ trợ nỗ lực chiến tranh"
Các nhà nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng có một sự thay đổi chiến lược trong tư duy của Trung Quốc năm 1968. Vì coi Liên Xô là mối đe dọa hàng đầu, Trung Quốc cho rút quân khỏi Việt Nam mà trước đó họ sang theo lời mời của ông Hồ Chí Minh để đề phòng bị tấn công từ phía Bắc. [Trên thực tế] liên minh cộng sản ở Đông Nam Á coi như tan rã.
Ngày 17/11/1968, Mao nói với Thủ tướng Bắc Việt, Phạm Văn Đồng rằng một số đơn vị Trung Quốc sẽ rút về nước và Trung Quốc “sẽ gửi quân trở lại nếu người Mỹ quay lại”.
Vào tháng 3/1969, theo thỏa thuận giữa hai quân đội, Quân Giải phóng bắt đầu rút về, giảm dần từ 16 sư đoàn, gồm 150 nghìn quân, xuống không còn đơn vị phòng không nào ở Bắc Việt Nam vào tháng 7/1970.
Trong thời gian ở Việt Nam, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã tham gia 2153 trận, bắn rơi 1707 máy bay Mỹ và làm hư hại 1608 chiếc trong trận Sấm Rền (Rolling Thunder) hay ‘Chiến tranh phá hoại miền Bắc’ theo cách gọi của Hà Nội.

Liên Xô thay dần Trung Quốc

Từ đầu tháng 3/1969 bắt đầu có va chạm dọc biên giới Trung – Xô. Các vụ bắn nhau xảy thường xuyên trong cả năm, và hai nước ở vào thế sắp lâm chiến. Sang đầu năm 1970, Liên Xô triển khai tới 48 sư đoàn, bằng gần một triệu quân dọc đường biên. Có tin rằng lãnh đạo Liên Xô tính cả đến cách dùng vũ khí nguyên tử để ‘đánh phủ đầu’ Trung Quốc. Hậu quả của tình hình đó là Quân Giải phóng tăng cường lực lượng lên tới tổng số sáu triệu quân, cao nhất trong lịch sử của họ.
Một tài liệu của CIA 12/8/1969 dự báo rằng:
“Gần như căng thẳng Trung – Xô sẽ không thể nào giảm trong vòng hai ba năm tới. Vì quyền lợi quốc gia xung đột nhau, vì sự cạnh tranh nhằm lãnh đạo phong trào cộng sản quốc tế, và sự lo sợ có thực về ý định của nhau sẽ khiến việc tiếp cận gần gũi không thể xảy ra. Vấn đề biên giới cũng sẽ không dễ giải quyết.”
Sau khi Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam và giảm viện trợ cho Hà Nội, Liên Xô ngay lập tức bù vào chỗ trống và còn tiếp tục hỗ trợ kinh tế, quân sự cho Bắc Việt Nam. Từ 1969 đến 1971, Moscow ký bảy hiệp định viện trợ cho Hà Nội. Năm 1972, Liên Xô tiếp tục tăng cường hệ thống phòng thủ bằng tên lửa ở Bắc Việt Nam.
Điều thú vị là các lãnh đạo Trung Quốc cũng khuyến khích phía Việt Nam yêu cầu thêm viện trợ từ Liên Xô. Chẳng hạn như Nguyên soái Diệp Kiếm Anh đã nói với Thứ trưởng Ngoại thương Bắc Việt Nam, ông Lý Ban, vào năm 1971, rằng “Các đồng chí cần yêu cầu Liên Xô chuyển nhiều, càng nhiều càng tốt vũ khí, đạn dược, lương thực”.
Khi Chủ tịch Ban thường vụ Quốc hội Trường Chinh thăm Bắc Kinh năm 1972, Thủ tướng Chu Ân Lai nói với ông rằng Bắc Việt Nam cần đòi hỏi nhiều hơn vũ khí, quân trang quân dụng từ Liên Xô.
"Từ những năm 1968-69, Liên Xô tăng cường nhiều sư đoàn quân đội đến biên giới với Trung Quốc"
Với Bắc Kinh, cam kết hỗ trợ liên tục cho cuộc chiến tranh tại Đông Dương đã và đang làm hao hụt nguồn lực của Liên Xô. Ngoài ra, mối đe dọa từ Liên Xô đã thúc đẩy lãnh đạo Trung Quốc cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ. Nhu cầu chiến lược này cuối cùng đã đưa tới chỗ bình thường hóa quan hệ Mỹ – Trung vào nửa đầu thập niên 1970.
Về tác động của nó đến cuộc chiến tại Đông Á và Chiến tranh Lạnh, giao ước Mỹ – Trung đã tạo ra thay đổi bước ngoặt trong thế chiến lược giữa hai cường quốc thời Chiến tranh Lạnh. Nếu như các nhà hoạch định chính sách ở Washington thấy nhờ đó mà việc tập trung nguồn lực và quan tâm chiến lược của Mỹ vào đối phó với Liên Xô dễ dàng hơn, Liên Xô lại coi việc phải đương đầu cùng lúc với Phương Tây và Trung Quốc là chuyện khiến sức mạnh của họ bị phân tán nghiêm trọng.

Không nổ súng trước

Quần đảo Hoàng Sa hay Paracels mà Trung Quốc gọi là Tây Sa nằm cách Đà Nẵng chừng 170 hải lý, giữa vĩ tuyến 15'45" và 17'05" và kinh tuyến đông 111'00" và 113'00". Quần đảo này gồm khoảng từ 15-30 hòn đảo, tùy cách tính...Sau hai thập niên quân đội Việt Nam Cộng Hòa đóng giữ, năm 1974, Hoàng Sa đã bị Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa chiếm bằng vũ lực.
Nằm cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 330 hải lý về phía Đông Nam, quần đảo Hoàng Sa gồm các nhóm đảo Tuyên Đức (tên Việt Nam: nhóm An Vĩnh - BBC) và Vĩnh Lạc (nhóm Lưỡi Liềm) và chừng 30 đảo nhỏ khác nằm trải rộng trên khoảng 15 nghìn km2. Đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm) là đảo lớn hơn cả, có diện tích 1,6 km2 và hiện nay chính quyền Hải Nam và Quân Giải phóng có trụ sở chính…
Vào tháng 9/1973, VNCH ra tuyên bố sáp nhật đảo Nam Yết và Thái Bình ở Trường Sa cùng 10 đảo khác thuộc vào lãnh thổ trên đất liền (tỉnh Phước Tuy- BBC) nhằm giữ quyền khai thác nguồn lợi thiên nhiên như dầu. Ngày 11/1/1974, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra công bố chính thức “xác nhận chủ quyền của nước này Nam Sa, Tây Sa, Trung Sa và Đông Sa và toàn bộ các nguồn lợi tự nhiên xung quanh là thuộc về CHND Trung Hoa”.
"Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa đã báo cáo lên Mao Trạch Đông và đề nghị Trung Quốc chiếm nốt các đảo do Nam Việt Nam kiểm soát và Mao đã đồng ý."
Ngày 15/1/1974, Hải quân VNCH gửi một khu trục hạm ra vùng biển quanh đảo Vĩnh Lạc. Sang ngày 16, phía Nam Việt Nam bắn vào đảo Cam Tuyền (Việt Nam: đảo Hữu Nhật) buộc các tàu đánh cá của Trung Quốc phải rời vùng này. Sang ngày 17, phía Việt Nam cử một khu trục hạm nữa chở quân lính đến chiếm Cam Tuyền và Kim Ngân (đảo Quang Ảnh) và nhổ cờ Trung Quốc. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh (1897-1986), Bộ trưởng Quốc phòng và Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương đã hạ lệnh cho Hải quân Quân Giải phóng trực chiến và sẵn sàng mở chiến dịch bảo vệ Tây Sa.
Nhằm bảo vệ chủ quyền và quyền đánh bắt cá, chính phủ Trung Quốc đã quyết định có biện pháp trước tình hình này. Các tàu cá tiếp tục hành nghề nhưng luôn chú ý đến các hoạt động của Hải quân VNCH. Cùng lúc, Hải quân Trung Quốc triển khai hai chiến hạm săn tàu ngầm số 271 và 274 đến đảo Vĩnh Lạc để bảo vệ ngư dân và dân quân Trung Quốc; hai tàu quét mìn cũng được cử đến, cùng các nguồn cung ứng nước ngọt và tiếp liệu. Chiến lược của Trung Quốc là không nổ súng trước nhưng nếu Nam Việt Nam khai hỏa trước thì Trung Quốc sẽ đánh trả tàn bạo. Nguỵ Minh Sâm, chỉ huy trưởng của căn cứ hải quân Ngọc Lâm được phong làm ‘tư lệnh chiến dịch bảo vệ Tây Sa’.
Ngày 17/1, hai chiến hạm săn ngầm của Trung Quốc chở một số dân quân ra Tấn Khánh (tên Việt Nam: Duy Mộng), và Sâm Hàng (Quang Hòa). Khi đến khu vực này họ chứng kiến hai tuần dương hạm số 4 và 16 của VNCH đã bắn vào thuyền cá Trung Quốc. Phía Trung Quốc cảnh báo phía Việt Nam ngay lập tức và yêu cầu ra khỏi khu vực. Ngày 18/1 hai khu trục hạm Việt Nam quay lại và bắn vào các tàu cá Trung Quốc tám lần, phá hỏng một thuyền phía Bắc bãi Linh Dương (đá Hải Sâm).
Đến tối, phía Nam Việt Nam cử thêm tuần dương hạm số 5 (Trần Bình Trọng) và hộ tống hạm số 10 (Nhật Tảo) vào vùng nước cạnh Vĩnh Lạc. Như thế có bốn chiến hạm Nam Việt Nam trong khu vực và sau đó, Hải quân Trung Quốc cử thêm hai tuần ngầm số 281 và 282 tới đảo Vĩnh Hưng.

Mao đồng ý chiếm trọn

Ngày 18/1, theo yêu cầu của Thủ tướng Quốc vụ viện kiêm Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Chu Ân Lai (1898-1976), Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc họp phiên đặc biệt cùng nhằm lập ra ban chuyên trách năm người để ứng phó với tình hình. Các vị Diệp Kiếm Anh, chủ nhiệm ban chuyên trách, cùng Vương Hồng Văn (1935-1992), Trương Xuân Kiều (1917-2005), Đặng Tiểu Bình (1904-1997) và Trần Tích Liên (1915-1999) đã nghe Tô Chấn Hoa (1912-1979), Phó Tư lệnh Hải quân báo cáo tình hình và đề nghị phản công.
"Sau khi chiến đấu được 1 giờ 37 phút, chiến hạm số 10 (Nhật Tảo) của Hải quân VNCH bị hư hỏng nặng"
Ban chuyên trách đã ngay lập tức công bố bản hướng dẫn nhằm đánh lại các tuần dương hạm của VNCH tại đảo Vĩnh Lạc. Căn cứ vào bản hướng dẫn này, phía Trung Quốc đã chuẩn bị cho chiến dịch.
Vào 4:10 chiều ngày 18/1, ba tàu tuần dương của Việt Nam đã lập thành một đội hình nhằm tiến vào chỗ hai tàu săn ngầm số 271 và 274 của Trung Quốc. Hai tàu này nhổ neo và lao tới tăng hết tốc lực chặn đội tàu Việt Nam. Các tàu VNCH vì thế đã quay lại. Vào lúc 7:00 sáng ngày 19/1, hai tàu số 4 và số 5 của VNCH đem hơn 40 binh sỹ đổ bộ vào hai đảo Sâm Hàng (Quang Hòa) và Quang Kim (Quang Hòa Tây). Sau cuộc đổ bộ, hai bên bắt đầu đọ súng.
Một binh sỹ VNCH bị bắn chết, ba người khác bị thương. Chừng 10:22 sáng, bốn tàu Việt Nam bắn vào tàu Trung Quốc, phía Trung Quốc bắn trả. Trong loạt đạn đầu tiên, phía Trung Quốc bắn hỏng ăng-ten cho radar trên tàu số 4 của VNCH. Tàu VNCH số 16 cũng bị tàu chống ngư lôi của Trung Quốc bắn trúng và phải rời khu vực. Các tàu Trung Quốc sau đó tập trung hỏa lực và tàu số 10 của Việt Nam.
Sau khi chiến đấu được 1 giờ 37 phút, các tàu Việt Nam để lại chiến hạm số 10 bị hư hỏng nặng. Tàu này tìm cách bơi đến bãi Linh Dương như không được. Hai tàu số 281 và 282 của Trung Quốc đã bắn chìm nó. Cùng thời gian, Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa đã báo cáo lên Mao Trạch Đông và đề nghị Trung Quốc chiếm nốt các đảo do Nam Việt Nam kiểm soát và Mao đã đồng ý. Sau trận hải chiến thành công ngoài biển, quân đội Trung Quốc đã đổ bộ xuống Cam Tuyền, San Hô (đảo Hoàng Sa), Kim Ngân (Quang Ảnh) và chiếm đóng các đảo này.
Trong trận chiến ‘Bảo vệ Tây Sa’ của Trung Quốc, có 18 binh sỹ Trung Quốc bị giết, 67 bị thương và phía Việt Nam có hơn 100 sỹ quan và binh sỹ bị giết hoặc bị thương, 49 người bị bắt làm tù binh.
Giáo sư Lý Hiểu Binh giảng dạy tại Đại học Central Oklahoma và là tác giả cuốn 'A History of the Modern Chinese Army'.

Friday, January 25, 2013



Saturday, March 31st, 2012 | Author: 
hoang-sa21

Việc đưa Hoàng Sa ra trọng tài quốc tế

Dương Danh Huy

Những sự kiện gần đây nói rõ lên sự nhức nhối của vấn đề Hoàng Sa đối với Việt Nam.
Ngày 30/3/2012, Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối chính quyền tỉnh Hải Nam tổ chức cuộc đua thuyền buồm “Cúp Ty Nam” xuất phát từ Tam Á đến quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 21/3/2012 Việt Nam đòi Trung Quốc thả vô điều kiện 21 ngư dân Việt Nam mà Trung Quốc đã bắt tại khu vực Hoàng Sa.
Ngày 15/3/2012 Việt Nam phản đối các hoạt động của Trung Quốc ở Hoàng Sa, bao gồm đấu thầu các lô dầu khí, thao dượt bắn đạn thật, và các hoạt động du lịch, văn hóa và thể thao.
Nan giải
Tranh chấp Hoàng Sa-Trường Sa-Biển Đông vốn đã là nan giải cho Việt Nam, nhưng trong các tranh chấp đó, tranh chấp Hoàng Sa là nan giải nhất. Thứ nhất, Trung Quốc đang chiếm đóng hoàn toàn Hoàng Sa. Thứ nhì, Trung Quốc không chịu công nhận rằng tồn tại tranh chấp chủ quyền trên quần đảo này. Thứ ba, trong tranh chấp với Trung Quốc về Hoàng Sa, Việt Nam hoàn toàn đơn độc.
Tranh chấp Hoàng Sa, không những đã là nan giải nhất, lại còn giữ chìa khóa cho một số tranh chấp khác ở Biển Đông.
Ở phía Bắc Biển Đông, Việt Nam và Trung Quốc đang trong quá trình đàm phán phân định khu vực ngoài của vịnh Bắc Bộ. Cùng lắm hai bên chỉ có thể phân định một phần khu vực này, trước khi đường phân định tiến đến gần quần đảo Hoàng Sa, khi quan điểm đối kháng của hai bên về quần đảo này sẽ làm cho không thể tiếp túc việc phân định biển. Như vậy, tranh chấp Hoàng Sa sẽ làm bế tắc việc phân chia biển từ phía Bắc Biển Đông.
Ở phía Nam Biển Đông, một trong những giải pháp có hứa hẹn cho việc quản lý tranh chấp là xác định phạm vi vùng biển thuộc tranh chấp Trường Sa. Bên ngoài vùng tranh chấp đó sẽ dứt khoát thuộc về Việt Nam hoặc Indonesia, Malaysia, Brunei, Philippines. Bên trong vùng tranh chấp thì các nước trong tranh chấp sẽ phải tìm một giải pháp tạm thời nào đó để quản lý tranh chấp cho đến khi tranh chấp Trường Sa được giải quyết hoàn toàn.
Bất kể mỗi người chúng ta có quan điểm thế nào về giải pháp khai thác chung vùng tranh chấp Trường Sa đi nữa, điều không thể chối cãi được là nếu Trung Quốc được khai thác chung vùng Trường Sa trong khi không chấp nhận cho Việt Nam khai thác chung vùng Hoàng Sa thì điều đó sẽ là vô cùng cay đắng cho Việt Nam.
Gạt khỏi đàm phán?
Với thế mạnh của Trung Quốc, khả năng là trong tương lai họ sẽ đòi hỏi gạt Hoàng Sa ra khỏi đàm phán với ASEAN bằng cách đề cập đến Trường Sa một cách cụ thể nhưng không đề cập đến Hoàng Sa. Và khả năng là các nước ASEAN kia sẽ không ủng hộ Việt Nam trong việc chống lại đòi hỏi đó, có nghĩa Việt Nam sẽ ngày càng cô độc trên bàn đàm phán trong vấn đề Hoàng Sa.
Người phát ngôn Lương Thanh Nghị
Việt Nam cần những biện pháp khác hơn là chỉ phản đối ‘chay’?
Tranh chấp Hoàng Sa cũng không phải là mối quan tâm của các nước ngoài khu vực. Họ có thể lên tiếng về tranh chấp biển hay tranh chấp Trường Sa, nhưng hầu như không lên tiếng về Hoàng Sa.
Không ít bản đồ trên thế giới ghi Hoàng Sa là của Trung Quốc. National Geographic Society đã từng làm điều đó, nhưng sửa lại sau khi Việt Nam phản đối. Google Maps hiện nay cũng đang ghi Hoàng Sa là của Trung Quốc.
Giới học giả quốc tế biết rõ là Hoàng Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền, nhưng họ đề cập đến hay phân tích tranh chấp Hoàng Sa ít hơn so với tranh chấp Trường Sa hay tranh chấp biển.
Trong bối cảnh đó thì trả lời của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cho Quốc hội, “Việt Nam chủ trương đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình”, rất khó thực hiện. Một bên thì chủ trương đàm phán giải quyết, bên kia thì cho rằng không có gì để giải quyết, đàm phán: nếu như thế mãi thì không thể đi đến đâu. Không những thế, dù có đàm phán thì đàm phán cũng khó có thể làm cho Trung Quốc trả Hoàng Sa lại cho Việt Nam.
Trọng tài
“Trong bối cảnh đó thì trả lời của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cho Quốc hội, “Việt Nam chủ trương đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình”, rất khó thực hiện. “
Nơi duy nhất có thể làm cho Trung Quốc trả Hoàng Sa lại cho Việt Nam là trước một trọng tài. Nhưng Trung Quốc không chấp nhận đưa tranh chấp cho trọng tài phân xử. Trong Thỏa thuận về những Nguyên tắc Cơ bản Chỉ đạo Giải quyết Vấn đề trên Biển với Trung Quốc, Việt Nam cũng đồng ý “Đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị”, tức là không đưa tranh chấp Hoàng Sa cho trọng tài. Như vậy thì không thể nào đòi lại được Hoàng Sa. Cách cần thiết để đòi lại Hoàng Sa là chọn thời điểm thích hợp và thách Trung Quốc đưa tranh chấp chủ quyền ra trước một trọng tài.
Theo một số nguồn tin, khi Việt Nam và Trung Quốc tranh cãi về số phận của các ngư dân Việt Nam, phía Việt Nam đã khẳng định rằng Hoàng Sa là của Việt Nam và nếu Trung Quốc có quan điểm khác thì hai bên có thể đưa vấn đề ra tòa án quốc tế, và phía Trung Quốc đã im lặng không trả lời. Việt Nam cần phải chọn thời điểm thích hợp và thách Trung Quốc thường xuyên hơn, công khai hơn.
Cho đến ngày xa vời khi Trung Quốc chấp nhận đưa tranh chấp chủ quyền đối với Hoàng Sa ra trước một trọng tài, Việt Nam cần tìm các phương án để quản lý tranh chấp, không để cho Trung Quốc hoàn toàn thao túng và mình thì chỉ phản đối chay.
Một trong những phương án cần xem xét là đưa việc Trung Quốc bắt ngư dân và các hoạt động dầu khí của Trung Quốc trong khu vực Hoàng Sa ra cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS theo quy trình sau:
Việt Nam sẽ viện thủ tục bắt buộc trong các Điều 286-296 của UNCLOS để đưa ra cho một trong những trọng tài mà UNCLOS quy định vấn đề: Yêu cầu trọng tài xác định phạm vi vùng biển bị tranh chấp vì tranh chấp Hoàng Sa tồn tại, với mục đích trả lời câu hỏi “Các hoạt động của Trung Quốc làm có nằm trong vùng biển bị tranh chấp hay không?”
Trung Quốc sẽ viện Điều 298 và khước từ với lý do họ đã bảo lưu quyền không chấp nhận dùng thủ tục bắt buộc để giải quyết các vấn đề ranh giới biển.
Việt Nam sẽ tiếp tục theo đuổi với lập luận rằng, theo Điều 298, để bảo lưu quyền không chấp nhận dùng thủ tục bắt buộc để giải quyết các vấn đề ranh giới biển, Trung Quốc phải chấp nhận thủ tục hòa giải của UNCLOS.
“Cho đến ngày xa vời khi Trung Quốc chấp nhận đưa tranh chấp chủ quyền đối với Hoàng Sa ra trước một trọng tài, Việt Nam cần tìm các phương án để quản lý tranh chấp, không để cho Trung Quốc hoàn toàn thao túng và mình thì chỉ phản đối chay.”
Để tránh thủ tục hòa giải, Trung Quốc phải viện lý do Hoàng Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền nên họ không bắt buộc phải chấp nhận thủ tục hòa giải của UNCLOS.
Trước hết, việc Trung Quốc công nhận Hoàng Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền sẽ là một điều có lợi cho Việt Nam hơn là họ khăng khăng rằng không tồn tại tranh chấp chủ quyền trên quần đảo này.
Thứ nhì, Việt Nam có thể bác bỏ lập luận của Trung Quốc với lý do: để giải quyết vấn đề “xác định phạm vi vùng biển bị tranh chấp vì tranh chấp Hoàng Sa tồn tại” đưa ra trước trọng tài, không cần phải giải quyết tranh chấp đảo, cho nên Trung Quốc bắt buộc phải chấp nhận thủ tục hòa giải của UNCLOS.
Nếu thủ tục hòa giải của UNCLOS dẫn đến kết luận rằng các hoạt động của Trung Quốc, bao gồm cả xâm phạm bắt ngư dân Việt Nam, xảy ra trong vùng biển đang bị tranh chấp (chứ không phải là của Trung Quốc) thì quan điểm của Việt Nam rằng Trung Quốc không có quyền xâm phạm ngư dân Việt Nam, không có quyền khai thác dầu khí, sẽ được bênh vưc.
Giả sử như trọng tài của UNCLOS có khước từ giải quyết vấn đề Việt Nam đưa ra với lý do Hoàng Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền đi nữa, thì mệnh đề “Hoàng Sa là lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp chủ quyền” của trọng tài cũng sẽ bác bỏ quan điểm của Trung Quốc rằng không tồn tại tranh chấp Hoàng Sa.
Cả hai điều trên đều có thể làm cho Trung Quốc bớt ngang ngược về khu vực và quần đảo Hoàng Sa. Điều đó sẽ góp phần bảo vệ ngư dân và cho việc tìm biện pháp quản lý tranh chấp. Nó cũng góp phần khuyến khích các công ty dầu khí quốc tế không hợp tác với Trung Quốc trong vùng biển có tranh chấp, và khuyến khích các nhà xuất bản bản đồ không ghi Hoàng Sa là của Trung Quốc.
Với tình hình Hoàng Sa bất lợi cho Việt Nam như hiện nay và trong tương lai, các nhà hoạch định chính sách Việt Nam nói riêng và trí thức Việt Nam nói chung cần phải nghiên cứu và phân tích các phương cách khác nhau để đưa vấn đề Hoàng Sa ra trước một trọng tài quốc tế.
Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/03/120331_danhhuy_hoangsa.shtml
You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.
One Response
  1. VONG THƯ TỪ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA
    Biển Đông, ngày…tháng…Năm…
    Kính thưa ba má!
    Chúng con, những cô hồn
    Lang thang ngoài hải đảo xa xôi
    Khi ngã xuống
    Xác không toàn thây vật vờ trôi trên sóng
    Và thịt da… chim cá rỉa mất rồi
    Chỉ còn lại những rẻo xương đơn côi chìm xuống
    Dải san hô nằm tận sâu đáy biển
    Giờ đã thành nấm mồ chung vĩnh viễn
    Mãi vô danh cùng Hải Chiến Hoàng Sa(1)
    Nay chúng con, những đứa con bất hiếu của má, của ba
    Đã không thể đáp đền mẹ cha công sinh thành dưỡng dục
    Chúng con cũng đã thành những kẻ bất trung với Tổ Quốc
    Vì đã để mất Biển Đảo Thiêng Liêng có tự thuở ông cha!
    Đã để mất Phú Lâm cùng anh cả Hoàng Sa
    Khiến em gái Nguyệt Thiềm khóc như mưa trên sóng
    Đã để mất Quang Hòa làm nát lòng Duy Mộng(2)
    Đã để mất biển rộng khiến Vĩnh Lạc bán thuyền
    Đã để mất Cam Tuyền, một đời trai phiêu lãng…
    Và để mất cả những viên ngọc bích kiêu sa
    Của chị Biển Đông hiền hòa má ửng hồng trong nắng!
    Ba má ơi,
    Nay ba má đã đi xa, hay còn ở Quảng Nam-Đà Nẵng
    Xin hãy làm lễ cầu siêu để đón chúng con về!
    Ngoài Hoàng Sa bây giờ, chúng ta đâu còn mộ còn bia
    Suốt ngày đêm chỉ thấy lố nhố lũ Tàu Ô nham hiểm
    Bia chủ quyền Việt Nam có từ thuở Gia Long,
    Cùng mồ mả những chiến binh canh biển đảo mấy trăm năm
    Nay đã bị quân sói lang đào lên quăng xuống biển!
    Ôi! Đã mấy chục năm trời
    Không còn chốn đi về, không có người thăm viếng
    Bao nhiêu cái tết đã qua rồi lạnh lẽo khói nhang
    Bơ vơ giữa biển Đông, hồn tha hương xao xuyến!
    Lại thêm một cái Tết nữa giữa Hoàng Sa đang đến
    Xin hãy cho chúng con được trở về!
    Ba má ơi!
    Hà Nội, 30/ 11/2011
    ĐẶNG HUY VĂN
    (1) Hải Chiến Hoàng Sa xẩy ra ngày 19/1/1974 giữa Hải Quân Trung Quốc và Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, kết quả Trung Quốc đã xâm chiếm bất hợp pháp Quần Đảo Hoàng Sa của Việt Nam kể từ ngày 20/1/1974. Trong trận Hải Chiến ấy, phía Việt Nam đã có 74 binh sĩ đã ngã xuống vì Tổ Quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.
    (2) Phú Lâm, Hoàng Sa, Nguyệt Thiềm, Quang Hòa, Duy Mộng, Vĩnh Lạc, Cam Tuyền… là tên các đảo và nhóm đảo lớn tại Quần Đảo Hoàng Sa.

    MỘT LƯỢNG LỚN TÀU CÁ TRUNG QUỐC XÔNG VÀO NAM HẢI – QUÂN VIỆT NAM KHÔNG HỀ DÁM RA TAY



    Trong bối cảnh rắc rối xảy ra liên tiếp ở Nam Hải, tâm lý cảnh giác của Việt Nam đối với những hành động của Trung Quốc ở Nam Hải luôn căng thẳng. Theo tin từ báo chí Việt Nam, thiếu tướng Lê Văn Cương[ii] , nguyên Viện trưởng “Viện nghiên cứu chiến lược” Bộ Công an Việt Nam ngày hôm trước đã rêu rao rằng, để kiểm soát Nam Hải, Trung Quốc nay mai sẽ dựa vào lực lượng tàu cá nhiều hơn để hành động ở Nam Hải, điều này sẽ “gây trở ngại thêm cho chủ quyền lãnh hải của Việt Nam”.

    Theo “Vietnamnet” ngày 10.12, Lê Văn Cương khi trả lời phỏng vấn gần đây đã nói, ông ta không cảm thấy ngạc nhiên trước việc tàu cá Trung Quốc cắt đứt cáp tàu thăm dò của Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam, cùng việc cho phép các cơ quan biên phòng công an khám xét tàu nước ngoài đi vào vùng biển Nam Hải bất hợp pháp mà tỉnh Hải Nam Trung Quốc vừa ban bố mới đây.      
    Ông ta cho rằng, để có thể vừa “làm chủ” được Nam Hải, lại vừa không làm rách mất chiếc “mặt nạ hòa bình”, Trung Quốc sẽ dựa vào lực lượng tàu cá nhiều hơn để hành động ở Nam Hải, nay mai sẽ huy động hàng vạn tàu cá đến Nam Hải, đặc biệt là vùng thềm lục địa Nam Hải cùng “vùng đặc quyền kinh tế” của các nước khác.  

    Đây là một cách làm mà Trung Quốc dựa vào lực lượng tự thân để “uy hiếp” người khác. Trung Quốc có thể dựa vào đó để vẫn “độc quyền” các vùng đặc quyền kinh tế mà không cần sử dụng vũ lực, đồng thời đoạt được “tài nguyên của các nước khác trong đó có Việt Nam”.   

     “Trong mấy năm tới đây, Trung Quốc còn sẽ phát triển theo hướng này”. Lê Văn Cương nói. 

    Hàng vạn tàu cá Quảng Đông ra biển đánh cá

    Tàu cá 725 băng băng tiến vào Nam Hải đánh cá

    Bài báo nói, tàu cá Trung Quốc thường xuyên tiến vào Nam Hải với quy mô lớn, còn những chiếc tàu cá bé nhỏ của Việt Nam thì không thể đối chọi được, ngay cả trên “vùng biển Việt Nam” cũng không ngoại lệ. 

    Lê Văn Cương còn cho biết, gần đây có chuyên gia Nhật Bản nói với ông ta, ngay đến một nước lớn như Nhật Bản mà cũng còn phải lo về tàu cá Trung Quốc. Nhật Bản không dám huy động tàu quân sự, bởi vì lo ngại điều đó sẽ khiến cho Trung Quốc cáo buộc Nhật Bản sử dụng tàu quân sự để tấn công tàu cá dân dụng.

    Về điều này, Việt Nam cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Lực lượng cảnh sát biển hiện nay của Việt Nam vẫn còn rất yếu, lực lượng kiểm soát nghề cá còn chưa được thành lập. 

    Ở Việt Nam, kiểu buộc tội vô căn cứ và thái độ cứng rắn đối với những hoạt động của Trung Quốc trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình giống như Lê Văn Cương không hề hiếm gặp. Một vài thành phố tại Việt Nam mấy hôm trước còn xảy ra hoạt động biểu tình chống Trung Quốc, phản đối Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đã có với Nam Hải.  

    Trong thực tế, Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Nam Sa[iii] cùng vùng biển phụ cận, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã nhiều lần phản hồi lại trước cái gọi là sự phản đối của Việt Nam.

    Tàu cá Trung Quốc sẵn sàng xuất phát

    Tàu cá Trung Quốc tiến vào Nam Hải với sự hộ tống của tàu cảnh sát biển

    Ngày 6.12, trước việc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam mới đây cáo buộc tàu cá Trung Quốc cắt đứt cáp tàu thăm dò của mình, Hồng Lỗi nói, cách nói của Việt Nam không đúng với sự thật, vùng biển mà Việt Nam nói là nằm ở vùng biển chồng lấn do hai nước chủ trương, nằm giữa đảo Hải Nam Trung Quốc với phần đất liền Việt Nam ở phía ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, còn tàu cá Trung Quốc thì đang tiến hành hoạt động sản xuất đánh bắt ngư nghiệp bình thường trong vùng biển này, đồng thời đã bị tàu phía Việt Nam đuổi đi vô cớ.

    Trong phản hồi về các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam, Hồng Lỗi nêu rõ, bất cứ hành động nào làm loang rộng và phức tạp thêm sự tranh chấp Nam Hải cũng đều không nên khuyến khích và hỗ trợ. Phía Trung Quốc yêu cầu phía Việt Nam áp dụng các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ một cách thiết thực sự an toàn và quyền lợi hợp  pháp của các công dân và cơ quan Trung Quốc ở Trung Quốc.

    Tàu cá Trung Quốc đến quần đảo Nam Sa:  Thu hoạch cá lớn ở đất cực nam Trung Quốc thật tuyệt vời

    Vào 17 giờ ngày 11.5,  chúng tôi bắt đầu lên tàu. Chuyến đi Nam Hải lần thứ 3 của chúng tôi bắt đầu.  Trong chuyến đi đến quần đảo Nam Sa lần này, chúng tôi phải mất 3 ngày 3 đêm mới tới.  

    Chúng tôi ngồi trên chiếc tàu vỏ sắt loại 150 tấn, tàu 150 tấn trên đất liền được xem là một vật khổng lồ, nhưng khi ở trên biển lại chẳng khác gì một chiếc lá liễu. Và rồi, cuộc sống rung lắc đã bắt đầu. 17 ngày sau khi trở lại bờ, tôi ngủ trên giường vẫn còn cứ cảm thấy lắc lư. 

    Trong khoảng thời gian 3 ngày, tàu chúng tôi đi ra hướng bãi Vạn An, cách xa bờ biển Việt Nam khoảng 70 hải lý, ở đó là bãi cá tây nam ở cực nam của Trung Quốc. Vào ngày thứ hai đi ra Tam Á, các container vận chuyển hàng hóa trên biển nhiều dần lên, lớn nhất ước tính khoảng 10 tấn. Theo hướng đông-tây ở 11 vĩ độ bắc hẳn là đường thủy quốc tế, các tàu du lịch, tàu khí tự nhiên, tàu chở khách lớn, tàu container thường xuất hiện ở  hai bên tàu chúng tôi.

    Vào buổi tối ngày thứ ba, chúng tôi đã đến phạm vi khoảng 8 độ vĩ độ Bắc và 108 độ kinh độ Tây. Lưới cá đầu tiên của chúng tôi bắt đầu thả lưới tại đây. Thật thú vị là,  ánh đèn của tàu đánh bắt đã hút cá heo đển. Cá heo là loài cá không được ngư dân chào đón nhất, bởi chúng đến để ăn cá, cho nên cá heo mà kéo tới thì có nghĩa là thu hoạch cá sẽ không lớn.  

    Vào khoảng 3 giờ đêm, nhiếp ảnh gia dưới nước Ngô Lập Tân của chúng tôi đánh thức tôi dậy khi đang say sưa, khẽ bảo tôi chạy ra đuôi tàu để xem. Tôi liền dậy chạy tới nhìn, có đến mười mấy con cá heo đang bắt cá trên mặt biển dưới ánh sáng đèn. Cá heo bơi đến hầu như không có tiếng động. Tôi và Ngô Lập Tân, còn có cả mấy trợ thủ lặn, ngồi ở phía đuôi tàu nhìn những con vật dễ thương nô đùa trước mặt mình. Tất cả chúng tôi đều im lặng, chỉ sợ các thuyền viên bị đánh thức, chỉ sợ họ thả lưới đánh bắt những con vật đáng yêu ấy mất. Thực ra cá heo là loài động vật rất thông minh, sau đó tôi còn một lần nữa được nhìn thấy chú cá heo bị mắc lưới đã nhảy qua mép lưới để trở lại biển khi các thuyền viên cất lưới.  


    Cá chuồn bên tàu chúng tôi trên đường hành trình

    Không phải tàu cá nào cũng thả lưới. Ở độ sâu khoảng 150 m dưới biển, ngư dân thả câu để câu cá, và thường là câu được cá lớn, lớn nhất có trọng lượng tới hơn 200 kg, loại này rất thường gặp. Chú cá đầu tiên của chúng tôi là do cậu con trai của trưởng tàu câu được, đó là một con cá ngừ răng chó nặng 85 kg. Đêm đó, chúng tôi ngồi trên tàu chốc chốc lại nghe vọng lại những tiếng reo mừng  hết cỡ, bởi liên tục có những chú cá lớn được câu lên, lần nào mọi người cũng hoan hô.

    Khi đến Vĩnh Thự Tiêu[iv], trưởng tàu Lương cứ nhất định tặng cho các binh lính sĩ quan đóng quân trên đảo những con cá ngừ, mực ống … mà tàu chúng tôi đánh được, tặng tất cả những con to nhất ngon nhất. Trưởng tàu nói: “Ngư dân chúng tôi đánh bắt cá ở Nam Hải, quân đội là sự bảo đảm an toàn lớn nhất cho ngư dân chúng tôi.  Mỗi khi nhìn thấy quân hạm của chúng ta, chúng tôi đều rất vững lòng. Cho nên, lần nào đánh cá ở đây cũng đều tặng cá cho binh lính sĩ quan trên đảo”. 

    Các binh lính sĩ quan đóng quân trên Vĩnh Thự Tiêu lần nào cũng tặng lại một vài món quà cho ngư dân đã cho cá, lần này là đồ hộp các màu, cánh gà rán đóng hộp, cá rán đóng hộp, còn có cả rau xanh đóng hộp các màu. 

     Nước ở Nam Hải có thể nhìn sâu tới trên 30m, cá, tàu chìm thỉnh thoảng lại xuất hiện trước mắt chúng tôi. Độ sâu lặn của chúng tôi phần lớn là không chế ở khoảng 30m, có cảm giác mình chẳng khác gì một chú cá bơi trong cung điện thủy tinh vậy. Nước ở Nam Hải lóng lánh, trong suốt giống như thủy tinh. 

     Ở Nam Hải của chúng ta, thực tế binh lính sĩ quan đại lục chúng ta chỉ đóng quân trên có 7 rạn san hô, lần lượt là Vĩnh Thự Tiêu, Hoa Dương Tiêu[v], Xích Qua Tiêu[vi], Đông Môn Tiêu[vii], Nam Huân Tiêu[viii], Mỹ Tế Tiêu[ix], Chư Bích Tiêu[x], cộng thêm đảo Thái Bình[xi] do Đài Loan đóng quân tổng cộng là 8.   

    Cuộc hành trình 17 ngày đã cho chúng tôi biết được rằng, trong thời gian hơn nửa tháng, Việt Nam đã nổ súng vào tàu cá, ngư dân của chúng ta ở Việt Nam, tàu chiến Philippines đã nổ súng vào tàu cá, ngư dân của chúng ta, tàu chiến Indonesia đã bắt giữ tàu cá, ngư dân của chúng ta. Tàu ngư chính của chúng ta đã tới vùng biển xảy ra sự việc để đón đầu ngăn chặn những hành vi này, buộc họ phải phóng thích những tàu thuyền và ngư dân đã bị bắt giữ.  

    Nam Hải đã là lãnh thổ của chúng ta, thì chúng ta khỏi cần phải sợ ai!

    Đêm đến cá heo bắt cá dưới ánh đèn của chúng tôi

    Có cá heo trong lưới nên bị ít đi rất nhiều, chiếc lưới to này một lần đánh được nhiều nhất là 30 000kg cá

    Cá bị mắc lưới

    Phân loại bảo quản cá đã đánh bắt

    Các thuyền viên phân công rõ ràng, ai làm việc nấy

    Tàu cá Trung Quốc đến quần đảo Nam Sa


    Cá lớn chúng tôi câu được

    Cá lớn mà những người dạy lặn của tôi là A Phi và A Phong câu được, họ vui mừng quá đỗi

    Cá mặt trăng, cá đầu chùy…câu được




    Vĩnh Thự Tiêu có bưu điện cực nam của Trung Quốc

    Vĩnh Thự Tiêu có một vườn rau, còn có cả một cánh đồng Hà Nam, tôi may mắn được chụp ảnh người Hà Nam này

    Xích Qua Tiêu, Anh Hùng Tiêu[xii] của chúng ta

    Xích Qua Tiêu, Anh Hùng Tiêu của chúng ta

    Tôi cùng người bạn lặn tới chiếc tàu chìm

    Tôi cùng người bạn lặn tới chiếc tàu chìm

    Đứng chụp ảnh trước chiếc bánh đà khổng lồ của một tàu mắc cạn


    Chim đẻ trứng sinh con ở phía dưới boong bánh đà mắc cạn


    Ở Tây Sa[xiii], Trung Sa, Nam Sa của Trung Quốc thường xuyên nhìn thấy tàu cá Việt Nam đánh bắt mực ống như thế này, khi chúng tôi quay về thấy có một tàu cá Việt Nam ở cách xa một khoảng chưa bằng cảng Đàm Môn





    Tàu chiến của mấy tiểu quốc xung quanh Nam Hải ngăn chặn sự tác nghiệp của ngư dân nước ta, lại còn bắt giữ tàu cá, ngư dân của chúng ta. Xông lên trước lúc này lại là tàu ngư chính của chúng ta

    Nguồn: junshi.xilu.com

    Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2013

    [i]   Tức Biển Đông.

    [ii]   Trong nguyên bản gọi nhầm thành Lê Văn Trọng (黎文仲).

    [iii]   Tức Trường Sa.

    [iv]  Tức Đá Chữ Thập.

    [v]   Tức Đá Châu Viên.

    [vi]   Tức Đá Gạc Ma.

    [vii]   Tức Đá Tư Nghĩa.

    [viii]   Tức Đá Ga Ven.

    [ix]   Tức Đá Vành Khăn.

    [x]   Tức Đá Xu Bi.

    [xi]   Tức Đảo Ba Bình.

    [xii]  “Tiêu” (礁) theo tiếng Hán có nghĩa là “rạn san hô”.

    [xiii]   Tức Hoàng Sa.

    ...♥.♥.♥...

    ...♥.♥.♥...

    Người dịch:  anhbasam - XYZ - 12.12.2012